Ghẻ là một bệnh lý da gây ngứa nhiều gây ra do cái ghẻ với tên khoa học Sarcoptes scabiei var.hominis. Đây là một bệnh lý dễ lây lan với các hình ảnh lâm sàng điển hình như các đường hầm, ngứa nhiều ban đêm và các sẩn viêm đỏ

Một số thuốc dùng để điều trị như permethrin, ivermectin, lindane, benzyl benzoate, malathion, crotamiton, và lưu huỳnh.

Viêm da đầu do chấy rận gây ra do do chấy rận với tên khoa học Pediculus humanus capitis. Ngứa da đầu là triệu chứng chính mặc dù đôi khi bệnh nhân có thể không có triệu chứng. Việc điều trị cần xem xét đến các con chấy rận đang hoặc động cũng như trứng chấy. Có ba phương pháp điều trị như chải tóc ướt, các thuốc bôi tại chỗ và thuốc uống.

Mặc dù một số thuốc sẵn có và dễ sử dụng nhưng đối với các trường hợp phụ nữ mang thai thì cần cân nhắc đến việc liệu chúng có gây tác động gì đến thai nhi hay không. Với hệ thống phân loại mới của FDA về độ an toàn khi sử dụng thuốc trên phụ nữ mang thai và cho con bú vào tháng 12 năm 2014.

Thuốc Phân loại theo FDA trên thai kỳ Khuyến cáo
Benzyl benzoate C An toàn
Camphor C An toàn
Corticosteroid C Sử dụng mức độ nhẹ đến trung bình
Crotamiton C An toàn, lựa chọn thứ 2 sau permethrin
Ivermectin C Tránh sử dụng
Lindane C Tránh sử dụng
Malathion B An toàn, lựa chọn thứ 2 sau permethrin
Menthol N An toàn
Permethrin B An toàn
Lưu huỳnh kết tủa C Hạn chế sử dụng, khả năng an toàn
Spinosad B Hạn chế sử dụng, khả năng an toàn

Benzyl benzoate: chất này bị cấm ở Hoa Kỳ bởi vì chất chuyển hoá của nó là benzyl alcohol có liên quan đến việc gây độc có thể tử vong ở trẻ sơ sinh (hội chứng thở ngáp – gasping syndrome với bệnh lý não, toan chuyển hoá, ức chế tuỷ xương và suy đa tạng). Tuy nhiên tình trạng này chỉ xảy ra khi được sử dụng chất này để súc rửa catheter tĩnh mạch trung tâm. Còn lại thì những sản phẩm có chứa benzyl alcohol vẫn có mặt trong các sản phẩm không kê toa ở Hoa Kỳ. Ngoại trừ tác dụng phụ gây kích ứng tại chỗ thì chưa có báo cáo nào ghi nhận về độc tính trên động vật và người khi thoa benzyl benzoate.

Camhor (phân nhóm C): camphor bôi tại chỗ có tác dụng làm mát và gây mất cảm giác tại chỗ phù hợp cho các tình trạng da gây ngứa. Trong nghiên cứu trên động vật, không có các bằng chứng trên thai nhi ngay cả khi sử dụng với liều độc cho mẹ. Do việc camphor có thể đi qua hàng rào máu não cho nên khi sử dụng đường uống có thể gây chết thai nhi hoặc gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Việc sử dụng camphor trên thai kỳ được cho phép.

Corticosteroid (phân nhóm C): Một nghiên cứu đánh giá trên Cochrane năm 2015 phân tích 5 nghiên cứu quần thể và 9 trường hợp nghiên cứu bệnh chứng đưa ra kết luận rằng việc sử dụng corticosteroid bôi tại chỗ, mức độ mạnh là an toàn ở các phụ nữ mang thai. Chúng không gây gia tăng bất kỳ nguy cơ nào đối với bất thường thai nhi, bất thường bẩm sinh và biến chứng chu sinh như sinh sớm, thai già tháng, chỉ số Apgar thấp hoặc tử vong thai nhi. Tuy nhiên có mối liên quan ghi nhận được giữa việc sử dụng corticosteroid mức độ rất mạnh và cân nặng thai nhi thấp, đặc biệt khi liều tích luỹ cao trong thời gian mang thai. Cần đặc biệt để ý đến việc hấp thu corticosteroid khác nhau trên từng người cũng như vị trí sử dụng. Thấp nhất là gan bàn chân (0.14%), mắt cá chân (0.42%), lòng bàn tay (0.83%), cẳng tay (1%), vùng lưng (1.7%), da đầu (3.5%), mặt, cổ, nách (3.6%), trán (6%), mí mắt (42%), và vùng bẹn (42%). Khuyến cáo hiện tại sử dụng corticosteroid bôi tại chỗ mức độ nhẹ đến trung bình. Với loại thì chỉ nên giới hạn trong thời gian ngắn và cần hội chẩn với bác sĩ phụ sản nếu được vì có khả năng gây gia tăng nguy cơ chậm phát triển thai nhi.

Crotamiton (phân nhóm C): Với liều thoa tại chỗ thì có khoảng 1% được hấp thu hệ thống. Không có các nghiên cứu trên ngừoi và động vật được thực hiện. Không có những biến cố trên thai kỳ qua các báo cáo sử dụng crotamiton bôi tại chỗ. Mặc dù không nên sử dụng như lựa chọn đầu tay do thiếu các bằng chứng về mức độ an toàn nhưng cũng có thể được xem xét sử dụng như một phương pháp an toàn trên thai kỳ.

Ivermectin (phân nhóm C): Trong các nghiên cứu trên động vật được tiến hành với liều gây độc cho mẹ thì thấy đáng chú ý về tình trạng xuất hiện hở hàm ếch, bất thường về xương sọ và móng hình dùi trên thỏ. Trong một nghiên cứu trên người Liberia trong 3 năm cho kết quả không có tác dụng phụ nào ảnh hưởng lên phụ nữ mang thai. 203 trẻ được sinh ra ở các phụ nữ phơi nhiễm với ivermectin không có gia tăng về tỉ lệ khiếm khuyết trên thai nhi khi so sánh với những phụ nữ không phơi nhiễm trong cùng nhóm dân cư. Và một số nghiên cứu khác cũng không ghi nhận thấy sự gia tăng bất thường nào về nguy cơ sẩy thai, thai lưu hoặc dị dạng bẩm sinh. Mặc dù vậy, những kết quả trên động vật cũng cần đáng quan ngại sâu sắc. Do đó, tốt nhất thì nên tránh sử dụng trong thai kỳ, và cũng có nhiều lựa chọn an toàn hơn để thay thế.

Lindane (phân nhóm C): thuốc này bị cấm ở nhiều nước song vẫn còn được sử dụng ở Hoa Kỳ. Các nghiên cứu trên thỏ cho thấy tình trạng thay đổi vận động, tăng tỉ lệ tử vong và chậm tăng trưởng với liều gấp đôi ước đoán ở người tiếp xúc. Với liều gấp 3 thì gia tăng tỉ lệ thai lưu. Tuy nhiên, không số các khiếm khuyết trên thai nhi trong các nghiên cứu đó. Một số trường hợp báo cáo gây ra khiếm khuyết ống thần kinh, chậm phát triển trí tuệ trên các phụ nữ mang thai tiếp xúc với lindane. Do vậy cần tránh sử dụng trong thai kỳ.

Malathion (phân nhóm B): Các nghiên cứu trên động vật không đủ bằng chứng để đưa ra kết luận về việc gây quá thai hoặc các bất thường thai nhi về mặt đại thể. Mặc dù chúng có khả năng là an toàn khi sử dụng trong thời gian mang thai, nhưng chỉ nên cân nhắc sử dụng đến chỉ khi các phương pháp an toàn hơn không thể đạt được. Còn nếu như được sử dụng thì ưu tiên lựa chọn dung môi nước thay vì cồn và không nên sử dụng quá liều khuyến cáo.

Menthol (phân nhóm N): có trong một số sản phẩm không kê toa ở một số quốc gia. Lotion có chứa menthol được dùng để giảm cảm giác tại chỗ. Các tác dụng gây độc lên thai nhi không được ghi nhận khi tiến hành thoa tại chỗ với liều gấp 106 lần so với liều được khuyến cáo sử dụng ở người mỗi ngày. Mặc dù không có nhiều nghiên cứu trên người nhưng chưa ghi nhận báo cáo nào về các phản ứng phụ trên thai kỳ. Nhìn chung việc sử dụng menthol tại chỗ là an toàn.

Permethrin (phân nhóm B): có khoảng 2% lượng thuốc được hấp thu vào hệ thống khi thoa tại chỗ. Các nghiên cứu trên động vật không ghi nhận thấy tác dụng có hại nào trên thai nhi. Trong một nghiên cứu tiến cứu trên 113 phụ nữ mang thai sử dụng dầu gội permethrin (31 người sử dụng trong quý 1 của thai kỳ) không có bất kỳ bất thường nào lên thai nhi. Trong một nhiên cứu khác được thực hiện trên 196 phụ nữ sử dụng permethrin 4% bôi tại chỗ cũng không thấy bất thường nào cả. Và đây được xem là lựa chọn thuốc bôi đầu tay trong điều trị tại chỗ trong nhiễm kí sinh trùng và là phương pháp an toàn trên thai kỳ.

Lưu huỳnh kết tủa (phân nhóm C): Mặc dù đây không phải là thuốc đầu tay nhưng có thể được dùng để điều trị những trường hợp bị ghẻ ban đầu và tái phát. Khoảng 1% lượng thuốc bôi tại chỗ được hấp thu hệ thống. Các thông tin về độ an toàn trên các phụ nữ mang thai còn hạn chế. Do sự hấp thu hệ thống thấp và không có báo cáo nào trong y văn về tác dụng phụ trên thai kì lưu huỳnh bôi tại chỗ có vẻ như không gây hại cho thai nhi. Sau lựa chọn đầu tay là permethrin thì lưu huỳnh có thể cân nhắc sử dụng giới hạn để điều trị ghẻ ở các phụ nữ mang thai.

Spinosad (phân nhóm B): Các nghiên cứu thử nghiệm sử dụng Spinosad uống trên động vật không ghi nhận bất kỳ tác dụng phụ gây bất thường thai nhi nào. Sau khi bôi tại chỗ 10 phút, nồng độ Spinosad huyết tương với ngưỡng không phát hiện được. Những nghiên cứu về tính gây ung thư khi sử dụng kéo dài trên động vật cũng cho cho kết quả âm tính. Các test độc tính lên gene cũng không cho thấy bằng chứng nào về khả năng gây đột biến gene nào. Spinosad hấp thu kém qua da và được chuyển hoá và đào thải nhanh trong cơ thể. Mặc dù thuốc có thể chứ một lượng benzyl alcohol không đáng kể và cũng không rõ liệu nó có thể đủ để hấp thu và gây những tác động gây độc lên thai nhi hay không. Chưa có những nghiên cứu tiến hành trên người, với những bằng chứng có được trên động vật như vậy có thể gợi ý đây có thể là phương pháp bôi tại chỗ có thể sử dụng an toàn trong thai kỳ.

DEP (Diethyl phthalate): Khi tiến hành thử nghiệm trên chuột mang thai được điều trị với DEP ghi nhận những bằng chứng với một liều nào đó có thể gây ra những biến dạng cấu trúc xương trên thai nhi và điều này phụ thuộc vào liều sử dụng. Và các nghiên cứu cũng ghi nhận cả phthalate diester và các sản phẩm chuyển hoá của chúng đều có mặt trong những tình huống đó, gợi ý đến độc tính lên phôi và thai nhi gây ra do tác động trực tiếp của thuốc này. Khi sử dụng thuốc này kéo dài, các nghiên cứu chỉ ra rằng nó gây ra những tác động bất thường lên sự phát triển cơ quan sinh dục nam giới thông qua cơ chế ức chế sinh tổng hợp androgen. Các nghiên cứu trên chuột cho thấy việc sử dụng DEP lặp đi lặp lại gây mất đi một số lượng đáng kể các tế bào sinh tinh, tuy nhiên không gây ảnh hưởng đến khả năng tình dục của chúng. Đáp ứng liều với sử dụng 7 ngày liên tục 50 mg/L làm ức chế đang kể quá trình chitobiase trong thượng bì và gan tuỵ. Đây là quá trình đống vai trò quan trọng trong việc thoái giáng các tế bào già bộ khung xương chi tin trong thời kỳ trước rụng lông.

BS Trần Ngọc Nhân

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here