Bệnh vảy nến là bệnh lý da có xu hướng bùng phát theo thời gian. Thông thường, nhiều loại kem hoặc mỡ thường có thể giúp làm biến mất hoặc giảm các mảng vảy nến. Liệu pháp ánh sáng đặc biệt và/hoặc các thuốc mạnh tay là lựa chọn điều trị trong những trường hợp nặng mà phương pháp sử dụng mỡ và kem không đem lại hiệu quả thực sự tốt.

Bệnh vảy nến là gì?

Vảy nến là bệnh lý thường gặp mà trong đó có tình trạng viêm của da. Chúng phát triển điển hình với các mảng đỏ da bong vảy. Một khi bạn bị vảy nến, chúng có xu hướng xuất hiện và kéo dài suốt đời. Một đợt bùng phát có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tần suất bùng phát cũng rất thay đổi. Tuy nhiên, ở một số người thì những đợt bùng phát xảy ra thường xuyên hơn. Vảy nến không gay ra do bởi nhiễm trùng. Do vậy mà bạn không thể lây nhiễm chúng cho người khác và cũng như chúng sẽ không tiến triển thành ung thư.

Mức độ nặng của bệnh vảy nến cũng rất biến đổi. Ở một số người, chúng có biểu hiện nhẹ với một số mảng nhỏ được hình thành và ít khi được để ý đến. Ngược lại thì có những trường hợp có rất nhiều mảng vảy nến có kích thước rất lớn. Ở nhiều người,thì mức độ thường ở khoảng giữa 2 giới hạn đó.

Có những loại vảy nến khác nhau nào?

Có rất nhiều loại vảy nến khác nhau. Tuy nhiên, vảy nến thể mảng mạn tính (sẽ được mô tả bên dưới) là loại điển hình và thường gặp hơn rất nhiều.

Vảy nến thể mảng mạn tính

Hình ảnh có liên quan
Nguồn ảnh: http://www.dermnetnz.org/topics/psoriasis/

Khoảng 80-90% số người bị vảy nến là thuộc thể mảng mạn tính. Ban da thường tạo thành các mảng đỏ da.

Mỗi tổn thương thường có màu hồng hoặc đỏ với các vảy màu trắng bạc dễ bong và cảm giác rất nhám. Thường có giới hạn rõ giữa bờ tổn thương với vùng da lành.

Những vị trí thường gặp nhất đó là vùng khuỷu tay và đầu gối, da đầu hoặc hông lưng. Các mảng tổn thương có thể xuất hiện bất kỳ nơi nào ở da nhưng chúng thường không xảy ra ở vùng mặt.

Sự tiến triển của ban da biến đổi khác nhau giữa các cá nhân bị bệnh và cungc có thể biến đổi theo thời gian trên cùng một người. Nhiều người chỉ có một số ít mảng nhỏ dao động quanh khoảng một cm khi chúng bùng phát. Những người khác lại thường có tổn thương da rộng với những mảng lớn khoảng một vài cm, đôi khi những mảng nhỏ ở gần nhau lại hợp với nhau thành những mảng tổn thương lớn hơn. Vảy nến thể mảng có thê gây ngứa nhưng thường không gây ra cảm giác khó chịu quá nhiều.

Có 2 dạng của vảy nến thể mảng mạn tính:

  • Vảy nến da đầu: Khoảng ½ trường hợp bị vảy nến thể mảng mạn tính có tổn thương trên vùng da đầu kèm theo. Tuy nhiên, vảy nến da đầu có thể xảy ra đơn độc ở một số người và thường là một dạng của vảy nến thể mảng mạn tính. Triệu chứng cảm giác giống như vảy gàu nặng. Toàn bộ vùng da đầu, hoặc là chỉ có một số đám nhỏ. Nếu nặng, chúng có thể gây ra rụng tóc.
  • Vảy nến thể kẽ: Đâu là một dạng của vảy nến thể mảng mạn tính. Chúng xảy ra ở các nếp gấp (vùng kẽ) như là nách, bẹn, dưới vú và ở các nếp gấp da. Da vùng tổn thương có biểu hiện có chút khác biệt với vảy nến thể mảng điển hình, đó là tổn thương thường đỏ và viêm nhưng da vẫn trơn láng và không có vảy dày.

Vảy nến thể mụn mủ

Đây là dạng vảy nến thường chỉ ảnh hưởng đến lòng bàn tay hoặc bàn chân. Những trường hợp này thường được gọi là mụn mủ lòng bàn tay chân (palmoplantar pustulosis). Vùng da bị ảnh hưởng hình thành các mụn mủ (đây là các mụn mụ vô khuẩn – không chứa các vi khuẩn). Da vùng bên dưới và quanh mụn mủ thường đỏ và có cảm giác đau. Vảy nến thể mụn mủ mà chỉ ảnh hưởng đến lòng bàn tay chân là loại vảy nến thường gặp thứ hai.

HIếm khi dạng này có thể ảnh hưởng lên những vùng cơ thể khác ngoài lòng bàn tay chân. Đây là thể vảy nến nặng và cần phải được điều trị khẩn dưới sự chăm sóc của các bác sĩ chuyên khoa da liễu.

Vảy nến móng

Khoảng một nửa số bệnh nhân bị vảy nến các loại có thể bị vảy nến móng tay. Ở một số người có thể ảnh hưởng đến móng chân. Vảy nến móng có thể cũng xảy ra đơn độc mà không có tổn thương da. Trên móng xuất hiện các lỗ lõm nhỏ như đầu đinh ghim. Đôi khi, móng trở nên lỏng lẻo trên giường móng. Móng có thể cũng thay đổi màu sắc và vùng xung quanh giường móng có thể có màu cam/vàng.

Vảy nến thể giọt

Điển hình xảy ra sau một đợt viêm họng gây ra do một loại vi khuẩn. Các mảng vảy nến hình oval/tròn kích thước nhỏ (kích thước giọt vảy nến nhỏ hơn 1cm) nhưng  có thể xảy ra toàn cơ thể. Vảy nến thể giọt thường kéo dài trong khoảng 1 tuần và sau đó nhạt đi dần. Tuy nhiên, chúng có thể kéo dài trong khoảng 3-4 tháng ở một số người. Ở nhiều người thì một khi chúng đã biến mất thì chúng sẽ không không bao giờ quay trở lại nữa.

Vảy nến thể đỏ da toàn thân

Thể vảy nến này gây ra tình trạng đỏ da rộng, gây đau toàn thân. Các mảng riêng lẻ của vảy nến có thể sẽ không nhìn thấy được bởi vì chúng hợp lại với nhau.  Và da vẫn tiếp tục đỏ, bong vảy và cảm giác ấm khi sờ. Một người bị vảy nến thể đỏ da toàn thân cũng có thể có sốt. Thể vảy nến này hiếm gặp nhưng đây là thể nặng và cần được điều trị khẩn tại bệnh viện bởi vì ảnh hưởng đến khả năng điều nhiệt của cơ thể và có thể gay ra thất thoát dịch hoặc protein, gây suy tim hoặc bênh lý nặng nề.

Bệnh vảy nến thường gặp như thế nào và những ai sẽ bị chúng?

Có khoảng 1 trong 50 người sẽ hình thành vảy nến ở một giai đoạn nào đó trong cuộc đời của họ, Vảy nến  thường gặp hơn ở người da trắng. Chúng có thể xuất hiện đầu tiên ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng thường gặp nhất vào khoảng giữa 15 đến 30 tuổi.

Một số người bị vảy nến có thể có những thành viên trong gia đình cũng có vấn đề tương tự. Đồng thời, một người cứu lớn trên những người hút thuốc lá (và đã bỏ thuốc là trong khoảng đến 20 năm sau khi bỏ thuốc) cho thấy có sự gia tăng xuất hiện vảy nến so với những người không hút thuốc. Một giả thuyết lý giải cho hiện tượng này đó là các độc chất trong khói thuốc lá có thể ảnh hưởng lên hệ thống miễn dịch mà có liên quan đến bệnh vảy nến.

Nguyên nhân gây ra bệnh vảy nến?

Da bình thường được tạo nên bởi các lớp tế bào của da. Lớp trên cùng (lớp sừng của thượng bì) bằng phẳng và dần dần bong ra dần. Các tế bào mới được tạo ra một cách hằng định bên dưới (ở lớp đáy của thượng bì) để thay thế các tế bào bị bong ra ở trên. Các tế bào dần dần di chuyển từ lớp đáy đến lớp sừng và bong ra, quá trình này thường mất khoảng 28 ngày. Hình vẽ bên dưới sẽ chỉ ra những phần khác nhau của da bình thường.

Những người bị vảy nến có quá trình tăng sinh của các tế bào xảy ra nhanh hơn. Nguyên nhân vì sao còn chưa được biết rõ. Càng nhiều tế bào được tạo ra càng đẩy dồn lên các tế bào ở lớp trên cùng, do đó hình thành nên các mảng da bong vảy hoặc gàu nặng gặp trong những bệnh nhân bị vảy nến da đầu.

Cũng có một số những thay đổi trong mạch máu cấp máu cho vùng da bị vảy nến. Các mạch máu nhỏ giãn rộng là gia tăng về số lượng. Điều này giải thích vì sao vùng da bên dưới tổn thương vảy nến thường có màu đỏ. Các tế bào trong quá trình viêm cũng tăng lên trong da ở nhưunxg người bị vảy nến.

Nguyên nhân gây ra sự tăng sinh các tế bào và quá trình viêm trong bệnh vảy nến còn chưa biết rõ. Các yếu tố di truyền dường như đóng vai trò trong vấn đề này, có khoảng 3/10 người bị vảy nến có những người thân thiết cũng bị ảnh hưởng. Có thể có một số yếu tố trong môi trường (có thể là virus) có thể làm khởi phát tình trạng ở những người có bộ gen dễ hình thành chúng. Giả thuyết khác được đặt ra đó là hệ thống miễn dịch có thể hoạt động quá mức theo những cách nào đó gây ra quá trình viêm. Các nghiên cứu vẫn đang được tiếp tục được thực hiện để cố gắng tìm kiếm được nguyên nhân chính xác.

Các yếu tố làm nặng cho vảy nến

Ở phần lớn những người bị vảy nến, thường không có lý do rõ rang nào giải thích rõ vì sao có đợt bùng phát lên ở bất kỳ một thời điểm nào đó. Tuy nhiên, ở một số ngừoi, vảy nến có khả năng bùng phát trong một số trường hợp. Bao gồm:

  • Stress. Khó có thể đo lường được stress và chứng minh được mối liên quan giữa stress và bệnh vảy nến. Tuy nhiên, người ta cho rằng stress có thể góp phần vào việc làm bùng phát vảy nến ở một số người, Có một số bằng chứng gợi ý rằng việc điều trị stress ở một số người bị vảy nến sẽ mang lại một sô lợi ích nhất định.
  • Nhiễm trùng. Tình trạng nhiễm trùng có thể gây bùng phát vảy nến. Trường hợp đặc biệt, viêm họng gây ra bởi chủng liên cầu có thể làm bùng phát vảy nến thể giọt hoặc vảy nến thể mảng mạn tính.
  • Thuốc. Một số thuốc có thể làm khởi phát hoặc làm nặng thêm tình trạng vảy nến trong một số trường hợp. Các thuốc được cho rằng có liên quan đến tình trạng này bao gồm: chẹn (propranolol, atenolol,…), thuốc kháng sốt rét, lithium, kháng viêm giảm đau  (ibuprofen, naproxen, diclofenac,…), ức chế men chuyển, và một số kháng sinh… Ở một số trường hợp vảy nến có thể không làm bùng phát bệnh cho tới khi thuốc đó được sử dụng trong khoảng vài tuần hoặc vài tháng.
  • Thuốc lá. Như đã được đề cập, hút thuốc là có thể giúp khởi phát vảy nến ngay ban đầu ở một số trường hợp. Độc tố từ thuốc là có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh đã có trước đó.
  • Chấn thương. Chấn thương da, bao gồm việc cào gãi quá mức có thể khởi phát việc hình thành đám vảy nến mới. Sự xuất hiện vảy nến ở ngay vị trí bị chấn thương còn được gọi là phản ứng Köbner’s.
  • Ánh nắng mặt trời. Phần lớn những người bị bệnh nói rằng ánh sáng mặt trời có thể làm giảm nhẹ được tình trạng của họ. Nhiều ngừoi nhận thấy rằng tình trạng của họ ít gặp rắc rối hơn vào những tháng mùa hè. Tuy nhiên, có một số người thì lại thấy điều ngược lại rằng khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời mạnh có vẻ như làm tình trạng của họ trở nên xấu đi. Và tình trạng bỏng nắng có thể cũng làm dẫn đến bùng phát vảy nến.
  • Những thay đổi hormonal. Vảy nến ở phụ nữ có xu hướng nặng nhất trong thời kỳ dậy thì và mãn kinh. Đó là những thời điểm mà có những sự thay đổi lớn trong nồng độ hormone nữ của họ, Một số phụ nữ mang thai bị vảy nến nhận thấy rằng triệu chứng của họ cải thiện khi họ mang thai nhưng chúng có thể lại bùng lên trở lại trong một vài tháng đầu sau khi sin hem bé. Một lần nữa thì điều này được cho rằng có sự liên quan đến nồng độ hormone.
  • Rượu. Uống nhiều rượu bia cũng có thể gây bùng phát bệnh ở một số người.

Có bất kỳ vấn đề nào có liên quan đến vảy nên không?

Những người bị vảy nến thường có xu hướng có  hoặc hình thành một số vấn đề khác. Tuy nhiên, nếu chỉ do bạn bị vảy nến thì cũng không có nghĩa rặng bạn sẽ chắc chắn sẽ gặp những vấn đề đó. Các vấn đề đó bao gồm:

  • Các vấn đề về khớp: Khoảng 1 hoặc 2 trong 10 ngừoi bị vảy nến thể mảng mạn tính cũng có tình trạng viêm hoặc đau ở một vài khớp (viêm khớp). Tình trạng này được gọi là viêm khớp vảy nến. Bất kỳ khớp nào cũng có thể bị ảnh hưởng, nhưng thường gặp nhất đố là các khớp ở ngón tay và ngón chân. Nguyên nhân gây ra tình trạng này là không rõ rang. Bạn nên đến bác sĩ nếu như bạn bị vảy nến và xuất hiện các triệu chứng đau hoặc sưng các khớp.
  • Các yếu tố nguy cơ của bệnh lý mạch máu: Những người bị vảy nến có khả năng có một số nguy cơ hình thành bệnh lý tim mạch như là tăng cholesterol máu và các acid béo khác trong máu, tăng huyết áp và đái tháo đường. Bạn cũng có nguy cơ cao hơn nếu như bị vảy nến mức độ nặng hơn là những trường hợp nhẹ.
  • Béo phì. Vảy nến cũng dường như thường gặp hơn ở những người bị béo phì.

Một số người bị vảy nến có thể cảm thấy xấu hổ về vấn đề da của họ và hình thành những trạng thái cảm xúc cơ thể âm tính. Họ có thể tránh một số hoạt động nào đó ví dụ như là bơi lội bởi vì họ sợ nhười khác thấy khi không được he phủ kién. Những người thân của họ cũng có thể bị ảnh hưởng. Một số người bị vảy nến sẽ có hình thành các vấn đề về lo lắng và trầm cảm.

Chẩn đoán vảy nến như thế nào?

Vảy nến thường được chẩn đoán dựa vào các đặc điểm điển hình của ban da trên lâm sàng mà không cần đến bất cứ xét nghiệm nào khác. Đôi khi, sinh thiết da có thể được tiến hành (lấy một mẩu nhỏ da để quan sát dưới kính hiển vi) nếu như còn nghi ngờ về chẩn đoán.

Có những phương pháp điều trị thường dùng cho vảy nến thể mảng mạn tính?

Hiện nay, không có một phương pháp điều trị nào có thể một lần và cho tất cả các trường hợp vảy nến. Mục đích điều trị là làm sạch các tổn thương trên da càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, vì vảy nến có xu hướng bùng phát qua thời gian nên bạn cần một liệu trình điều trị kiểu “bật – tắt” suốt đời. Có rất nhiều phương pháp điều trị vảy nến và không có một lựa chọn nào tốt nhất mà phù hợp cho tất cả mọi người được. Vấn đề điều trị cần được tư vấn và chỉ định bởi bác sĩ chuyên khoa tùy thuộc vào mức độ nặng của bệnh, vị trí và thể vảy nến. Đồng thời, một phương pháp điều trị nào đó có thể sẽ có hiệu quả tốt ở người này nhưng lại kém hơn ở người khác.

Nhiều thuốc điều trị ở dạng kem hoặc mỡ. Theo quy tắc, bạn cần phải thoa kem/mỡ đúng chỉ định để đạt được hiệu quả tốt nhất. Thường phải mất vài tuần kể từ khi bắt đầu điều trị để có thể làm sạch được các mảng vảy nến. Hãy đảm bảo rằng bạn biết rõ chính xác cách sử dụng của những thuốc được kê đơn như thế nào. Ví dụ như, có một số dạng hoạt chất mà bạn không nên sử dụng ở những vùng kẽ hoặc nếp gấp của cơ thể, vùng da mặt hoặc những vùng da bị thương tổn. Có một số thuốc thì cần tránh sử dụng ở phụ nữ có thai. Hãy hỏi bác sĩ điều trị của bạn, y tá hoặc dược sĩ nếu như bạn không chắc chắn cách sử dụng chúng như thế nào hoặc sử dụng bào lâu cả.

Sau đây là những điều tổng quan ngắn gọn sau đây vế những thuốc thường được sử dụng trong điều trị vảy nến thể mảng mạn tính. Trừ khi vảy nến rất nặng, điều trị thường bắt đầu với phương pháp bôi tại chỗ. Điều này có nghĩa là thuốc được sử dụng để thoa trực tiếp lên vùng da bị tổn thương, ví dụ như kem hoặc mỡ. Nếu những thuốc đó không có hiệu quả thì bạn cần được chuyển đến các bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn về việc sử sụng khác phương pháp điều trị khác hoặc là liệu pháp ánh sáng.

Nếu như bạn bị vảy nến, sẽ có thể có một số lợi ích nhất định nếu như bạn bỏ thuốc lá cũng như là hạn chế được lượng bia rượu sử dụng, Tập thể dục một cách điều độ và chế độ dinh dưỡng lành mạnh có thể sẽ giúp ích cho bệnh vảy nến của bạn. Lý giải cho những vấn đề này đó là bệnh lý vảy nến có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện những bệnh lý tim và đột quỵ và việc tập luyện thể dịc và chế độ dinh dưỡng lành mạnh có thể giúp ích trong phòng ngừa những biến cố này.

Chú ý: điều trị của những dạng ít gặp hơn cũng khá là tương tự nhưng không được đề cập đến trong bài viết này. Bạn cần nhờ đến sự tư vấn từ các bác sĩ chuyên khoa.

Không điều trị có thể là một lựa chọn

Có nhiều người bị vảy nến với một số ít các mảng tổn thương mà không quá xấu hoặc ở những nơi ít ai để ý đến. Trong những tình huống này, một số người không muốn bất cứ điều trị nào cả. Nếu như bạn lựa chọn không điều trị trong những tình huống này, hãy luôn đề cao việc thay đổi suy nghĩ của bạn mỗi khi mà tổn thương có những thay đổi hoặc nặng hơn.

Dưỡng ẩm

Liệu pháp này sẽ giúp làm mềm những vùng hoặc mảng da cứng. chúng có thể làm giảm vảy và ngứa. Có rất nhiều hang kem hoặc mỡ dường ẩm khác nhau. Một sản phẩm dưỡng ẩm có thể là tất cả những thứ mà bạn cần để điều trị cho những trường hợp vảy nến nhẹ. Bạn cũng nên sử dụng chúng khi kết hợp thêm các thuốc điều trị khác và càng đều đặn càng tốt để giữ cho da luôn mềm và ẩm. Chúng cũng có thể giúp dự phòng ngứa, giảm khô da và giúp loại bỏ các vảy da tốt hơn. Việc sử dụng dưỡng ẩm cũng có thể giúp cho những thuốc điều trị khác có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, thoa dưỡng ẩm đầu tiên và để dành nhiều thời gian cho chúng thấm vào da trước khi thoa bất kỳ thuốc điều trị nào khác.

Dưỡng ẩm cũng có thể được sử dụng thay thế cho xà phòng. Cần cẩn thận khi sử dụng dưỡng ẩm trong khi tắm hoặc rửa bởi vì chúng có thể gây ra trơn trượt dễ dẫn đến té ngã.

Các thuốc dẫn xuất Vitamin D

Calcipotriol, calcitriol và tacalcitol là những thuốc thường được sử dụng và thường mang lại hiệu quả tốt. Chúng có vẻ hoạt động thông qua việc làm chậm tốc độ phân chia tế bào. Thuốc ở dạng kem, mỡ hoặc lotion để dễ dàng sử dụng, ít gây mùi khó chịu hoặc bẩn như biện pháp sử dụng nhựa đường hoặc kem/mỡ dithranol (bên dưới). Tuy nhiên, chúng có thể gây ra kích ứng da ở một số người. Thuốc cũng có dạng chất của calcipotriol cho da đầu có thể sử dụng để điều trị nhưunxg trường hợp vảy nến da đầu.

Dẫn xuất vitamin D đôi khi cũng được sử dụng kết hợp với những thuốc khác trong điều trị vảy nến nếu như đơn thuần việc điều trị đó là không đủ hiệu quả. Ví dụ như, dạng thuốc mỡ có chữa calcipotriol và steroid đôi khi được sử dụng.

Nếu như bạn đang muốn có em bé, đang mang thai hoặc đang cho con bú thì những thuốc này thườngchỉ được kê đơn nếu như cân nhắc thấy những lợi ích nhiều hơn những nguy cơ chúng mang lại. Bạn cũng nến thảo luận với bác sĩ của bạn liệu bạn bạn nên sử dụng các thuốc này không nếu như bạn có dự định có em bé, đang mang thai hoặc cho con bú.

Calcipotriol có thể gây ra kích ứng da như đỏ da, gây đau hoặc ngứa khoảng 1 trong 5 người sử dụng. Bất kỳ sự kích thích da nào xuất hiện cũng thường lắng xuống nhưng đôi khi cũng có thể ngưng điều trị một thời gian nếu cần thiết. Đôi khi, thuốc cần được ngừng sử dụng vì tình trạng gây kích ứng da. Bởi vì có những nguy cơ như vậy mà bạn không nên sử dụng calcipotriol ở vùng mặt, kẽ hoặc trước khuỷu tay, hõm khoeo, nách, bẹn…

Nhìn chung, calcipotriol khá an toàn nếu như bạn tuân thủ theo những hướng dẫn của nhà sản xuất. Những hướng dẫn này bao gồm việc bạn không nên sử dụng vượt quá liều tối đa của sản phẩm:

  • 100 g kem hoặc mỡ mỗi tuần đối với người lớn.
  • 75 g mỗi tuần đối với trẻ em lớn hơn 12 tuổi.
  • 50 g mỗi tuần đối với trẻ em từ 6 đến 12 tuổi.
  • Đối với những dạng sử dụng cho da đầu, không sử dụng hơn 60ml lotion cho mỗi tuần.

Chú ý: nếu như bạn sử dụng calcipotriol dạng kem hoặc mỡ ở thân mình và dạng lotion calcipotriol ở da đầu thì bạn cần cân nhắc về vấn đề sử dụng chúng. Trong những tình huống này, lượng thuốc tối đa cho mỗi dạng thuốc ít hơn liều khuyến cáo ở trên. Bạn nên tuân theo những hướng dẫn của bác sĩ của bạn.

Nếu như bạn cũng sử dụng dưỡng ẩm cho da của bạn, bạn cần phải chắc chắn rằng bạn sử dụng dưỡng ẩm trước rồi đợi khoảng 30 phút trước khi thoa calcipotriol hoặc các dẫn xuất của vitamin D.

Bạn nên rửa sach tay sau khi thoa thuốc. Điều này giúp dự phòng việc vô tình vây thuốc sang những vùng khác của cơ thể.

Mỡ Calcitriol và tacalcitol có chứa các dẫn xuất của calcipotriol. Ưu điểm của calcitriol và tacalcitol là chúng ít gây ra kích ứng da hơn calcipotriol. Do đó, các thuốc đó có thể thích hợp để sử dụng cho vùng mặt hoặc các nếp kẽ của cơ thể theo hướng dẫn của bác sĩ. Bạn không nên sử dụng quá 30g calcitriol mỡ mỗi ngày và cũng không nên thoa nhiều hơn 1/3 diện tích cơ thể mỗi ngày. Bạn không nên sử dụng nhiều hơn 10g tâclcitol mỡ mỗi ngày.

Kem và mỡ Steroid

Đây là những thuốc tại chỗ thường được sử dụng bởi đáp ứng giảm viêm của chúng, dễ sử dụng và có thể là một lựa chọn điều trị tốt ở những vùng khó điều trị như da đầu và mặt. Tuy nhiên, một vấn đề xảy ra đối với các steroid đó là trong một số trường hợp, một khi ngưng sử dụng, vảy nến có thể bùng phát trở lại nghiêm trọng hơn trạng thái ban đầu. Đồng thời, tác dụng ơhuj của chúng có thể xảy ra khi sử dụng kéo dài, đặc biêth là với những thuốc có tác dụng mạnh.

Do đó, nếu như các thuốc steroid được sử dụng, bác sĩ có thể kê đơn chúng trong chỉ một giai đoạn nào đó (một ít tuần hoặc tương đương, và nhóm yếu hơn), hoặc ngắt quãng từng đợt. Theo quy tắc là tất cả kem hoặc mỡ steroid không nên sử dụng một cách đều đặn trong hơn 4 tuần mà không có bất kỳ sự đánh giá nào của bác sĩ cả. Dạng steroid lotion rất có ích trong việc sử dụng cho những đợt bùng phát của vảy nến da đầu. chỉ nên sử dụng những nhóm thuốc steroid nhẹ cho vùng mặt hoặc vùng kẽ.

Chất pha chế từ nhựa đường

Những chất này được sử dụng để điều trị vảy nến trong nhiều năm mặc dù cho đến nay chơ chế làm sạch tổn thương vảy nến của chúng vẫn chưa được biết rõ. Chúng có thể làm giảm sự tăng sinh của các tế bào da, đồng thời cũng có vẻ như làm giảm viêm và giảm vảy da. Những dạng pha chế truyền thống thường gây bẩn khi sử dụng nhưng những sản phẩm mới thường đem lại sự hài lòng tốt hơn cho người bệnh. Kem, mỡ, hồ, chất pha tắm và dầu gội mà thành phần có chứa nhựa đường có thể sử dụng trong điều trị vảy nến.

Theo quy tắc, không sử dụng kem hoặc những dạng thuốc khác có chứa nhựa đường trên vùng kẽ. Đồng thời, tránh sử dụng chúng trên vùng mặt, và nếu cần thiết dùng đến thì cần tránh để chúng tiếp xúc với mắt. Tuy nhiên, một số dạng kem nhẹ hơn có thể sử dụng trên vùng mặt và kẽ theo hướng dẫn của bác sĩ. Bác sĩ của bạn cũng sẽ tư vấn cho bạn liệu chúng có an toàn khi sử dụng những thuốc có chứa chiết xuất nhựa đường trên vùng sinh dục hay không.

Chiết xuất nhựa đường có thể gây ra mùi khó chịu và nhuốm màu áo quần khi sử dụng, chúng có thể gây kích ứng da ở một số người và da có thể trở nên nhạy cảm đối với ánh nắng mặt trời khi sử dụng thuốc. Thuốc này cũng không nên sử dụng trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Tuy nhiên, chúng có thể sử dụng vào thời gian sau của thai kỳ và thời kỳ cho con bú.

Dithranol

Dithranol đã và đang được sử dụng nhiều năm trong điều trị vảy nến. Trong phần lớn các trường hợp, việc thoa hằng ngày dithranol sẽ làm mảng tổn thương biến mất dần. Tuy nhiên, dithranol có thể gây kích ứng da lành. Do đó mà bạn cần thoa chúng một cách cẩn thận chỉ ở những mảng vảy nến mà thôi. Để giảm nguy cơ gây kích ứng da, thường bắt đầu sử dụng với liều thấp và tăng liều dần qua một vài tuần sử dụng.

Liệu pháp tiếp xúc ngắn với dithranol khá phổ biến. Bằn cách thoa chế phẩm dithranol mạnh trên mảng vảy nến trong khoảng 5-60 phút mỗi ngày và sau đó rửa sạch chúng đi. Dithranol có thể gây nhuốm màu da, tóc, áo quần, giường chiếu, khăn tắm… Bạn không nên sử dụng thuốc ở vùng mặt trừ khi được chỉ định bởi bác sĩ chuyên khoa.

Khi sử dụng dithranol, bạn nên tuân thủ theo những hướng dẫn của bác sĩ một cách cẩn thận, và kèm theo trên bao bì sản phẩm mà bạn sử dụng. Tuy nhiên, cần kiến trì với điều trị bởi vì hiệu quả chỉ thấy được sau một vài tuần. Những hướng dẫn nào có thể bao gồm:

  • Mặc gang tay cao su khi thoa kem hoặc mỡ dithranol. Rửa tay sau khi thoa thuốc
  • Thoa chỉ trên vùng tổn thương mảng vảy nến. Tránh tiếp xúc lên vùng da lành. Đối với dạng kem, chỉ thoa mỏng thuốc, massage kĩ và lau những phần dư ra bên ngoài. Đối với dạng mỡ, cần thoa mỏng thuốc.
  • Tránh sử dụng bất kỳ thuốc nào ở vùng quanh mắt hoặc vùng mắt. Nếu như có kích ứng mắt, rửa sạch bằng nước và nếu như vẫn không cải thiện, hãy đến gặp bác sĩ ngay.
  • Giữ kem hoặc mỡ dithranol trong khoảng thời gian theo như chỉ dẫn của bác sĩ. Đối với phương pháp tiếp xúc ngắn hạn, có thể giữ trong vòng từ 5-60 phút, sau đó rửa sạch chúng đi. Chú ý: dạng kem có chứa dithranol có thể rửa sạch dễ hơn dạng mỡ.
  • Sau khi rửa sạch, chỉ sử dụng nước mát (dưới 30°C) và không có xà phòng hoặc chất tẩy rửa. Nước nóng hoặc xà phòng có thể làm da bị nhuốm màu nhiều hơn bởi dithranol. Bạn có thể sử dụng nước nóng hoặc xà phòng để tắm rửa bình thường sau khi bạn rửa sạch kem/mỡ dithranol đi.

Salicylic acid

Salicylic acid thường được sử dụng kết hợp với những thành phần khác trong điều trị như là nhựa đường hoặc steroid. Chúng thường có xu hướng làm mềm và bong vảy da trong vảy nến vùng thân mình hoặc vùng đầu. Các thuốc khác cũng có xu hướng hiệu quả hơn nếu như được salicylic làm bong bớt các vảy da dày. Salicylic acid có thể được sử dụng điều trị kéo dài. Tuy nhiên, chúng có thể gây ra kích ứng da ở một số người. Bạn không nên sử dụng thuốc này nếu như có dị ứng với aspirin.

Tazarotene

Tazarotene là dẫn xuất vitamin A đôi khi cũng được sử dụng trong điều trị vảy nến. Chúng có thể gây ra tình trạng thường gặp đó là kích ứng da bình thường xung quanh. Có thể giảm thiểu được vấn đề này bằng cách thoa mỏng thuốc vào đúng tổn thương, hạn chế những cùng da lành. Thuốc không được sử dụng ở phụ nữ mang thai bởi vì có nguy cơ xấu lên sự phát triển của thai nhi. Và cũng không nên sử dụng trong thời kỳ đang cho con bú.

Đối với những trường hợp vảy nến da đầu

Dầu gội có thành phần nhựa đường thường được dùng thử đầu tiên và cũng thường đem lại kết quả tốt. Một số sản phẩm kết hợp thành phần này với một hoặc nhiều các chất như acid salicylic, mỡ kết hợp giữa dầu dừa/acid salicylic, steroid, calcipotriol.

Nếu như bạn bị vảy nến da đầu, bạn cũng có thể thử mặc những áo quần sáng màu hơn để giúp cho những vảy da bị bong ra ít thấy hơn. Bạn cũng có thể nói với thợ cắt tóc về những thay đổi về kiểu tóc mới để có thể che phủ được những thương tổn tốt hơn. Cần cẩn thận tronng khi chải tóc một cách nhẹ nhàng. Điều trị vảy nến da đầu với các thuốc cũng có thể làm nhuộm màu gối/vỏ gối của bạn, do vậy mà bạn có thể cần sử dụng vỏ gối cũ trong thời gian điều trị này.

Các sản phẩm kết hợp

Một số sản phẩm sử dụng kết hợp nhiều thành phần với nhau. Ví dụ như, calcipotriol với steroid  làm tăng hiệu quả của thuốc tron khi calcipotriol đơn độc không cho kết quả cao trong điều trị. Như đã được đề cập, thường không sử dụng lâu dài steroid cho nên một liệu trình điều trị đôi khi chỉ sử dụng calcipotriol kết hợp với steroid trong 4 tuần thay thế cho việc sử dụng calcipotriol đơn độc trong 4 tuần.

Những kiểu kết hợp khác như là dẫn xuất nhựa đường và steroid cũng đôi khi được sử dụng. Sử dụng cả dẫn xuất vitamin D và steroid cùng thời điểm có thể hiệu quả hơn việc dùng riêng lẽ chúng ở một số người. Chiến thuật điều trị luân phiên khác cũng đôi khi được sử dụng. Ví dụ như, steroid trong một ít tuần sau đó là một liệu trình dithranol.

Các sản phầm cho da đầu thường chướng thành phần kết hợp như steroid, coal tar, và salicylic acid.

Các phương thức điều trị vảy nến khác

Nếu như bạn bị vảy nến nặng thì bạn cần phải được nhập viện để điều trị. Liệu pháp ánh sáng là một trong những phương pháp có thể được sử dụng. Bao gồm điều trị với tia UVB hoặc một loại khác là PUVA (psoralen và tia UVA- uống psoralen giúp gia tăng tác động của tia UV lên da). Đôi khi những trường hợp nặng được điều trị liệu trình tăng cường với việc sử dụng kem hoặc mỡ đã được mô tả ở trên, nhưng với hoạt chất mạnh hơn và sử dụng kèm kĩ thuật băng bịt.

Nếu vảy nên nặng và không đáp ứng với những phương pháp ở trên thì có thể sử dụng đến những thuốc ức chế uqas trình viêm mạnh. Ví dụ như methotrexate, ciclosporin, acitretin, etanercept, infliximab, efalizumab, ustekinumab và adalimumab. Có một số nguy cơ những tác dụng phụ nguy hiểm khi sử dụng những thuốc đó cho nên thuốc chỉ được sử dụng theo lời khuyên của bác sĩ chuyên khoa.

Tiên lượng của bệnh vảy nến như thế nào?

Bệnh vảy nến ảnh hưởng lên những người khác nhau theo những cách khác nhau. Nhìn chung thì vảy nến thể mảng là một tình trạng dai dẳng (mạn tính) với những đợt bùng phát tái đi tái lại. Tuy nhiên, một số nghiên cứu chỉ ra rằng, theo thời gian thì các mảng vảy nến có thể sẽ biến mất hoàn toàn ở một vài thời điểm trong khoảng 1/3 số người bị bệnh. Một số người có vài năm mà họ không bị vảy nến và sau đó lại bùng phát trở lại.

Như đã được đề cập ở trên, vảy nến thể giọt ít gặp hơn và thưỡng biến mất hoàn toàn sau một vài tháng. Nhưng nếu như bạn có một đợt bùng phát vảy nến thể giọt, bạn có nguy cơ cao hơn bình thường trong khả năng hình thành vảy nến thể mảng mạn tính về sau này.

BS Trần Ngọc Nhân

Nguồn tài liệu dịch: Dr Tim Kenny, Psoriasis, http://patient.info/health/psoriasis-leaflet

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here